Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Phòng ngừa đột quỵ não

Theo Hiệp hội Đột quỵ của Hoa Kỳ, hơn 80% số ca đột quỵ có thể phòng ngừa. Do đó, việc phòng chống đột quỵ não ngay từ khi còn trẻ là yếu tố quan trọng hàng đầu.

Cũng theo hiệp hội này, để ngăn chặn không để cho đột quỵ xảy ra, cần phải:

1. Thường xuyên tập thể dục: tăng cường vận động giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, bệnh tim mạch và đột quỵ não. Ở người lớn khỏe mạnh cần tập thể dục thể thao tăng cường nhịp hô hấp, nhịp tim cường độ trung bình đến mạnh ít nhất 40 phút/ngày, 3 - 4 ngày/ tuần. Những vận động mà họ thích thú, thí dụ ngay cả đi bộ cũng cho thấy giảm nguy cơ đột quỵ. Thời gian luyện tập có thể tản ra cho những người khó khăn luyện tập đầy đủ thời gian theo khuyến cáo.

Phòng ngừa đột quỵ nãoTăng cường vận động giúp giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường, bệnh tim mạch và đột quỵ não

2. Chế độ ăn và dinh dưỡng hợp lý:

Hạn chế muối và thực phẩm có chứa hàm lượng muối cao, cần giảm tối đa lượng muối cho vào thực phẩm, hạn chế các đồ ăn được chế biến sẵn vì các đồ ăn này thường chứa hàm lượng muối cao. Lượng muối < 2.300mg/ngày cho người bình thường và < 1.500mg/ngày cho bệnh nhân tăng huyết áp, đái tháo đường, suy thận mãn và ≥ 51 tuổi.

Chế độ ăn nhiều trái cây, rau quả cung cấp nhiều kali có lợi và có thể giảm nguy cơ đột quỵ. Những thức ăn giàu kali như: chuối, khoai lang, khoai tây, cà chua, các loại đậu…

Thực hiện chế độ ăn nhiều trái cây, rau quả và sản phẩm làm từ sữa ít chất béo, giảm mỡ bão hòa được khuyến cáo để hạ huyết áp.

Bổ sung nhiều thực phẩm chứa chất omega - 3 là một axít béo có lợi cho sức khỏe giúp ngăn ngừa đột quỵ. Mỗi tuần vài 3 lần thu nhận axít béo hệ omega-3 từ cá hồi, cá ngừ, cá mòi, cá trích, cá thu, các loại quả và hạt như quả óc chó… sẽ có tác dụng rất tốt để bảo vệ mạch máu.

Nên ăn nhiều thực phẩm có chất xơ có trong các nguồn thực phẩm như trái cây, rau xanh, ngũ cốc, các loại đậu…

3. Béo phì và phân bố mỡ trong cơ thể:

Những người dư cân (BMI= 25 - 29 kg/m2) và béo phì (BMI >30 kg/m2) khuyến cáo giảm cân để giảm huyết áp và giảm nguy cơ đột quỵ.

4. Hút thuốc lá:

Tránh hút thuốc với người chưa hút và ngưng hút thuốc với người đang hút. Nên cấm hút thuốc ở nơi công cộng, để giảm nguy cơ đột quỵ và nhồi máu cơ tim.

Phòng ngừa đột quỵ nãoTránh hút thuốc với người chưa hút và ngưng hút thuốc với người đang hút

5. Uống rượu và lạm dụng ma túy:

Sự liên quan giữa rượu và não rất phức tạp. Rượu được báo cáo hiệu quả chống xơ vữa động mạch, kháng viêm và liên quan cải thiện cholesterol, chức năng tiểu cầu và đông máu, nhạy cảm insulin và giảm thấp nguy cơ cả đột quỵ thiếu máu và xuất huyết. Tuy nhiên cần phải biết tiết chế: nam có thể uống ≤ 2 ly/ ngày và phụ nữ không có thai ≤ 1 ly /ngày có thể hợp lý. Ngược lại nếu uống rượu nhiều thì sẽ gia tăng nguy cơ đột quỵ xuất huyết và làm nặng hơn thiếu máu não. Bên cạnh đó, việc lạm dụng nhiều loại ma túy sau đó là rượu có liên quan đến cả đột quỵ thiếu máu và xuất huyết.

80% số ca đột quỵ có thể phòng ngừa

6. Viêm nhiễm và nhiễm trùng:

Có vai trò quan trọng cho nguy cơ đột quỵ, ảnh hưởng đến thành lập, phát triển và ổn định mảng xơ vữa động mạch.

Bệnh nhân viêm nhiễm mãn bao gồm thấp khớp, lupus hệ thống được xem như gia tăng nguy cơ đột quỵ và cần tăng cường kiểm soát.

Việc chủng ngừa vắcxin cúm hàng năm có thể ích lợi giảm nguy cơ đột quỵ ở bệnh nhân có nguy cơ đột quỵ.

7. Sự rối loạn hô hấp lúc ngủ:

Điều trị sự ngưng thở lúc ngủ làm giảm nguy cơ đột quỵ.

8. Các bệnh lý như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim mạch, rối loạn mỡ máu…

Đây là các nguyên nhân gây ra bệnh đột quỵ não. Do đó việc khám định kỳ sức khỏe để sớm phát hiện các bệnh và chữa bệnh là cách tốt nhất để phòng chống đột quỵ não.

Đối với bệnh nhân tiền tăng huyết áp (huyết áp tối đa: 120 - 139mmHg hay huyết áp tối thiểu: 80 - 89mmHg): cần thực hiện tầm soát huyết áp hàng năm và thay đổi lối sống.

Đối với bệnh nhân bị tăng huyết áp cần điều trị đích huyết áp < 140/90mmHg. Nên tránh những cảm xúc bất lợi như: vui, buồn, giận dữ, thất vọng, stress hằng ngày.

Nói tóm lại, bên cạnh các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi gây đột quỵ não như tuổi, giới, chủng tộc, sinh thiếu cân (<2.500g), tiền sử gia đình đột quỵ/ thiếu máu não thoáng qua (cả cha hay mẹ), tai biến mạch máu não hoàn toàn có thể dự đoán, với các biện pháp can thiệp kịp thời sẽ tránh bị xảy ra đột quỵ.

BS. LƯU THỊ THANH LOAN

8 điều cần làm sau khi sinh con

Dưới đây là 8 điều quan trọng các bà mẹ mới sinh phải ưu tiên thực hiện ngay sau khi sinh.

Dinh dưỡng sau khi sinh con

1. Ăn đủ

Sau khi sinh con, bạn cần ăn uống đầy đủ dưỡng chất vì thiếu dinh dưỡng sẽ làm tiêu hao năng lượng bạn cần duy trì để nuôi con. Bạn nên chuẩn bị những bữa ăn nhẹ để khi có thời gian bạn có thể ăn. Ngoài ra, bạn cũng cần tăng cường hấp thu dịch nếu đang cho con bú. Quá trình cho con bú tạo ra một phản ứng nội tiết có thể làm tăng cảm giác khát, do vậy cần có sẵn nước để có thể uống bất cứ lúc nào.

8-dieu-can-lam-sau-khi-sinh-con

2. Bổ sung vitamin như trước khi sinh con

Nhiều phụ nữ nghĩ rằng sau khi sinh con họ không cần bổ sung vitamin như trước lúc sinh. Nhưng nếu bạn đang cho con bú, cơ thể cần nhiều vitamin và khoáng chất hơn thời kỳ mang thai. Bạn cũng nên tham khảo ý kiến bác sĩ về việc bổ sung vitamin D và dầu cá omega-3 để trẻ có đủ dinh dưỡng cần thiết.

Những điều nên làm, nên kiêng sau khi sinh con

3. Hạn chế các cuộc thăm hỏi trong thời gian đầu

Gia đình và bạn bè bạn sẽ rất mong được nhìn thấy em bé nhưng điều đó không có nghĩa bạn phải cho phép họ. Sinh đẻ là một quá trình khó khăn với cơ thể bạn. Trong thời gian này, rất khó để duy trì năng lượng và những người khách tới thăm có thể làm tiêu hao thêm nguồn năng lượng (có hạn) của bạn.

4. Ngủ nhiều hơn

Giấc ngủ rất quan trọng cho quá trình phục hồi. Nhưng điều này lại thật khó cho những bà mẹ mới sinh. Theo March of Dimes, trẻ sơ sinh ngủ 16 giờ/ngày với 3-4 giờ mỗi lần khiến cho người mẹ thật khó để ngủ lâu. Cách tốt nhất là ngủ khi trẻ ngủ, thậm chí chỉ là những giấc ngủ ngắn và dạy trẻ phân biệt ngày đêm càng sớm càng tốt để bạn có thể dần có một giấc ngủ đêm ngon giấc. Ví dụ, hãy mở rèm cửa và giữ yên tĩnh trong giấc ngủ ngắn ban ngày và để phòng ngủ tối và thật yên tĩnh vào ban đêm.

5. Hãy kiên nhẫn khi cho con bú

Trong những ngày đầu, việc cho con bú sẽ thật khó khăn do người mẹ còn chưa quen. Người mẹ có thể bị nứt núm vú và kem bôi không có tác dụng và bị đau do co tử cung. Tất cả những điều này có thể ảnh hưởng tới việc cho con bú nhưng hãy thật kiên nhẫn.

6. Tập kegel

Việc bắt đầu luyện tập phụ thuộc vào tình trạng thể chất và tinh thần hiện tại của bạn. Bạn có thể bắt đầu bằng cách đi bộ và đi dạo vứi bé sơ sinh từ 20-30 phút mỗi ngày. Các chuyên gia cũng khuyên bạn tập Kegel (bài tập rèn luyện khung chậu) ngay sau khi sinh. Mang thai và sinh con có thể làm yếu cơ sàn chậu, kết quả là khiến cho khung chậu chịu áp lực, dễ bị tiểu tiện không tự chủ. Kegel là bài tập hiệu quả giúp những cơ này trở lại bình thường.

7. Bôi thuốc giảm đau âm đạo nếu cần

Nếu bạn sinh thường qua đường âm đạo, bạn có thể phải chịu nhiều đau đớn và khó chịu ở phía dưới. Phương pháp điều trị tốt nhất cho những vết rạch âm đạo này là bôi lidocaine để làm tê vết thương, trong khi tắm ngồi và ibuprofen sẽ giúp giảm sưng. Ngoài ra, bạn cũng có thể giảm đau bằng cách cho nước ấm vào bình xịt và xịt lên âm đạo trong và sau khi đi tiểu.

8. Yêu cầu giúp đỡ

Khi không thể dành thời gian cho bản thân là lúc bạn cần nhờ đến “sự trợ giúp của người thân”. Bạn không chỉ cần nhờ người trông con giúp để đi tắm, tranh thủ ngủ, mà còn có thể nhờ họ giặt giũ, nấu bữa tối, mua sắm thực phẩm... Nên nhớ, bạn được ưu tiên lúc này và mọi người muốn giúp đỡ bạn, đừng ngại làm phiền họ.

BS Thu Vân

(theo SE)

Lời khuyên của chuyên gia khi sử dụng kính áp tròng

Tuy nhiên hiện nay có tình trạng một số bạn trẻ tự ý đặt mua kính trên mạng mà không được khám, tư vấn đúng, đầy đủ về cách sử dụng, vệ sinh, bảo quản kính nên có thể dẫn đến một số vấn đề như lựa chọn thông số kính không phù hợp, thậm chí có thể dẫn đến một số bệnh lý nguy hiểm, đe dọa thị lực như viêm, loét giác mạc. Bài viết sẽ cung cấp cho độc giả những hiểu biết cần thiết khi lựa chọn và sử dụng kính áp tròng.

Để hạn chế những biến chứng không mong muốn do việc sử dụng kính áp tròng mang lại, sau đây là những điều cần lưu ý khi lựa chọn và sử dụng kính áp tròng:

Ưu điểm của kính áp tròng

Kính áp tròng (kính sát tròng/ kính tiếp xúc) là một thiết bị y tế được đặt trực tiếp lên bề mặt giác mạc để chỉnh tật khúc xạ hoặc điều trị một số bệnh lý của giác mạc. Kính áp tròng có thể điều chỉnh các tật cận, viễn, loạn, kể cả lão thị. Kính áp tròng giúp bệnh nhân có hình ảnh trung thực, mang tính thẩm mỹ cao, thuận tiện trong các hoạt động thể thao hoặc nghệ thuật.

Kính áp tròng có thể khắc phục được một số khuyết điểm của kính gọng như: Mất thẩm mỹ; Giới hạn thị trường do gọng kính; Làm thay đổi kích thước của các vật xung quanh (với tật khúc xạ nặng); Hạn chế đối với một số nghề nghiệp hoặc trong khi chơi thể thao; Không thể đeo được khi lệch khúc xạ quá nặng.

Ngoài ra, kính áp tròng còn có một số ưu điểm đặc biệt như:

Kính áp tròng thẩm mỹ có thể thay đổi màu mắt, làm cho tròng mắt to hơn hoặc để che sẹo đục giác mạc.

Kính áp tròng điều trị như để bảo vệ bề mặt giác mạc (trong một số bệnh lý trợt giác mạc, bệnh giác mạc bọng …), khắc phục tình trạng lóa mắt cho những bệnh nhân không có mống mắt, kính áp tròng cho bệnh giác mạc hình chóp.

Lời khuyên của chuyên gia khi sử dụng kính áp tròngKhi sử dụng kính áp tròng, cần được thăm khám định kỳ tại các cơ sở chuyên khoa mắt nhằm phát hiện sớm, xử trí kịp thời các biến chứng.

Vài lưu ý khi sử dụng

Đeo kính và tháo kính

Luôn luôn cắt ngắn móng tay, rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi đeo và tháo kính. Tuyệt đối không để móng tay dài vì đây là nơi trú ngụ của các loại vi sinh vật có thể gây viêm nhiễm cho mắt, ngoài ra khi thao tác, móng tay dài còn có thể làm xước, rách kính, ảnh hưởng đến chất lượng kính cũng như sự an toàn cho mắt.

Cần được hướng dẫn đeo và tháo kính đúng cách để thao tác nhanh, chính xác, không làm tổn thương mắt.

Nếu sử dụng dụng cụ đeo/ tháo kính thì cần đảm bảo dụng cụ luôn được giữ khô ráo, sạch sẽ, được vệ sinh định kỳ bằng dung dịch rửa chuyên dụng.

Vệ sinh và bảo quản

Lựa chọn dung dịch ngâm rửa, bảo quản kính phù hợp với loại kính đang sử dụng.

Lưu ý hạn sử dụng của dung dịch ngâm rửa kính. Khi đã mở nắp chai, không được sử dụng quá 3 tháng.

Đóng nắp ngay sau khi đã sử dụng xong. Không để đầu chai dung dịch chạm vào các bề mặt bẩn.

Khay đựng kính phải được để ở nơi khô thoáng, sạch sẽ, không được để trong nhà vệ sinh. Sau khi lấy kính ra, đổ hết nước ngâm cũ, vệ sinh khay đựng bằng dung dịch ngâm rửa, để khay khô ráo. Lần tháo kính tiếp theo cần được đổ đầy nước ngâm mới, tuyệt đối không được giữ nước ngâm cũ và chỉ đổ đầy thêm.

Định kỳ thay khay đựng kính mỗi lần thay chai dung dịch ngâm rửa kính.

Lựa chọn loại kính để dùng

Lựa chọn kính áp tròng của các thương hiệu uy tín, tuyệt đối không đặt mua kính của những hãng bán hàng trôi nổi trên mạng, không rõ xuất xứ, nhà sản xuất.

Lưu ý hạn sử dụng được ghi trên bao bì, không sử dụng các sản phẩm đã quá hạn hoặc bao bì đóng gói, vỏ hộp bị rách, không còn nguyên vẹn.

Khi chuyển đổi từ kính gọng sang kính áp tròng, các thông số sẽ bị thay đổi và kính áp tròng được đặt trực tiếp trên bề mặt giác mạc nên các thông số rất thay đổi theo từng người nên khi lựa chọn kính áp tròng cần có ý kiến của nhân viên y tế, tốt nhất là bệnh nhân nên đến thăm khám tại cơ sở y tế chuyên về mắt/ kính áp tròng để được tư vấn, thăm khám và lựa chọn thông số kính phù hợp nhất.

Người sử dụng cần tuân thủ những khuyến cáo nêu trên để hạn chế đến mức thấp nhất nguy cơ viêm nhiễm và những biến chứng không mong muốn khác.

Lời khuyên của thầy thuốcKính áp tròng đem lại rất nhiều lợi ích về chất lượng hình ảnh, tính thẩm mỹ và tiện dụng. Bên cạnh những ưu điểm đó, kính áp tròng lại làm tăng nguy cơ viêm nhiễm cho mắt, đe dọa thị lực nếu không sử dụng đúng cách. Do vậy, khi sử dụng kính áp tròng, cần được thăm khám định kỳ tại các cơ sở chuyên khoa mắt nhằm phát hiện sớm, xử trí kịp thời các biến chứng. Ngưng sử dụng kính ngay lập tức nếu mắt có các biểu hiện đỏ, cộm chói, đau nhức, nhìn mờ, chảy nước mắt nhiều. Khi sử dụng bất cứ loại thuốc nhỏ mắt nào cần có ý kiến của nhân viên y tế.

BS. Phạm Hải Yến

((Khoa Khúc xạ - BV Mắt Trung ương))

Nhờ hệ miễn dịch đánh thắng “địch”

Hệ miễn dịch bị làm việc “quá tải” và phút chốc bỗng trở nên “nhu nhược” trước vô số các loại vi khuẩn, virút dập dìu bên ngoài lẫn bên trong cơ thể.

Nhiệm vụ đầy trọng trách

Hệ miễn dịch của cơ thể là một cơ chế tuyệt vời nhằm bảo vệ cơ thể trước sự rình rập, dòm ngó của các loại vi khuẩn, virút, ký sinh trùng, vi sinh vật, độc chất... Những phần tử cơ hội này chỉ chực chờ những khoảnh khắc co thể bị suy yếu để ra tay, chúng dễ dàng vượt qua hàng rào phòng ngự của cơ thể để rồi xâm lược toàn bộ cơ thể chúng ta. Thế nhưng khi cơ thể chúng ta khỏe mạnh, chúng ta không hề biết rằng hệ miễn dịch của chúng ta phải làm việc cần mẫn như thế nào. Chỉ đến khi “long thể bất an” thì chúng ta mới nhận ra vai trò của hàng phòng thủ. Để ý một chúng, chúng ta sẽ thấy công trạng to lớn của hệ miễn dịch. Hãy tự hỏi sao vết thương của chúng ta mau lành? Tại sao chúng ta phải hắt hơi hoặc ho mỗi khi hít phải những phần tử lạ? Tại sao chúng ta phải nôn mửa mỗi khi ăn phải những loại thức ăn bị nhiểm độc?...

Nếu hệ miễn dịch của chúng ta làm việc một cách vô trách nhiệm thì cơ thể chúng ta phải nhận lấy một hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Hệ miễn dịch đảm bảo sự cân bằng nội môi cũng như đại tu những chỗ hư hỏng. Nếu hệ miễn dịch lười biếng thì chúng ta cũng sẽ bị bất an ngay sau khi uống một ly nước hoàn toàn tinh khiết. Chúng ta cần phải biết rằng hệ miễn dịch của chúng ta làm việc hiệu quả đến đâu, chúng ta có bạc đãi nó hay không?

Nhờ hệ miễn dịch đánh thắng “địch”

Các tế bào trong hệ miễn dịch của chúng ta đảm nhận vô số công việc khác nhau. Nhóm thì làm “vệ sĩ, nhóm thì làm “công nhân dọn rác”. Có nhóm lại làm lính gác thành và “Tổng tư lệnh”. Nhóm khác lại đảm nhiệm chức năng như là một kho vũ khí.

Nói một cách đơn giản, cơ thể chúng ta được bảo vệ ở ba mức độ na ná như tiền vệ, trung vệ và hậu vệ. Hàng “tiền vệ” để bảo vệ cơ thể chính là lớp da bao bọc chung quanh để bảo vệ cơ thể chúng ta, đồng thời tiết ra những chất liệu có tác dụng chống lại những vi sinh vật gây hại. Hàng tiền vệ cũng bao gồm dịch nhầy mũi, nước mắt có tác dụng chống đỡ những phần tử xâm nhập gia cư bất hợp pháp.

Nếu những vị khách không mời mà đến dùng mọi thủ đoạn để vượt qua hàng tiền vệ thì chúng sẽ gây kích ứng cơ thể. Lúc này hàng trung vệ sẽ ra tay, chẳng hạn đáp trả bằng những phản ứng viêm. Cuối cùng, hàng hậu vệ sẽ tạo ra những đáp ứng miễn dịch, chống lại những phần tử xâm lăng chuyên biệt. Đây chính là vai trò của bạch huyết cầu.

Cấu tạo của hệ miễn dịch khá phức tạp. Hệ miễn dịch tác động lên tất cả mô trong cơ thể để duy trì sự cân bằng trong các hoạt động của những mô này. Các tế bào của hệ miễn dịch hoạt động một cách không riêng lẻ. Chúng sẽ hòa vào hệ tuần hoàn máu để “báo cáo” với não, hoặc chúng sẽ kích hoạt những sợi thần kinh gần đó để báo hiệu cho não nên “tùy cơ ứng biến”. Não sẽ điều khiển hành vi của chúng ta, não sẽ thay đổi mọi thứ, từ sự chuyển động của cơ thể, sự thèm ăn, khả năng “muốn”...

Những tế bào miễn dịch cũng sẽ kích hoạt vùng dưới đồi (hypothalamus). Đây là một khu vực vô cùng quan trọng của não bộ, vốn điều khiển những áp lực stress về thể chất lẫn tinh thần. Nếu cơ thể chúng ta hứng chịu stress một cách triền miên, tuyến yên (pituitary) và tuyến thượng thận (Adrenal gland) sẽ giải phóng thật nhiều cortisol. Những hoóc-môn cortisol này sẽ làm yếu cơ, tăng nhịp tim, gây mất ngủ, ngăn chặn sự tăng trưởng mô...

Ăn để phòng thủ

Bữa ăn vô cùng quan trọng cho sức khỏe. Chế độ dinh dưỡng đóng một vai trò quan trọng trong việc cân bằng những sự thay đổi “tiêu cực” xảy ra trong cơ thể do hậu quả của việc tiếp xúc với độc chất. Nếu không đáp ứng chế độ dinh dưỡng một cách thích hơp thì việc bị “thủng lưới” là một điều khó tránh khỏi. Ăn quá nhiều, hoặc ăn quá ít điều dẫn đến sự suy yếu cho hàng phòng thủ.

Nhờ hệ miễn dịch đánh thắng “địch”

Những bữa ăn nhỏ thường xuyên chứa các loại protein, carbohydrates, những loại chất béo thiên nhiên sẽ giúp kích thích quá trình chuyển hóa, giúp hằng định nồng độ đường huyết, giúp duy trì năng lượng. Carbohydrates làm giảm những hoóc-môn được tiết ra những khi có stress như cortisol, adrenalin, nhờ đó làm giảm bớt những sự viêm nhiễm. Các loại chất béo như omega-3 là bạn chí cốt của hệ miễn dịch.

Các loại vitamin như: A, C, E... cũng rất quan trọng trong việc củng cố chức năng của hệ miễn dịch do chúng tác động vào chức năng của hệ miễn dịch. Ngoài ra cũng phải kể đến vai trò của kẽm. Kẽm được tìm thấy trong mọi tế bào của cơ thể và đóng vai trò quan trọng trong những phản ứng enzym. Một lượng kẽm thích hợp trong khẩu phần ăn sẽ vô cùng ích lợi cho “hàng phòng thủ”. Kẽm đồng thời cũng ức chế sự tăng trưởng của một số virút vốn luôn sẵn sàng “ăn cắp trứng gà” trước hàng rào phòng thủ. 

DS. NGUYỄN BÁ HUY CƯỜNG (Australia)

Nhận diện kẻ giết người hàng loạt qua lăng kính y học

Nhận diện kẻ giết người hàng loạt qua lăng kính y học

1. Những kẻ giết người hàng loạt thường bị rối loạn nhân cách

Theo Cục điều tra Liên bang Mỹ (FBI), đa phần những kẻ giết người hàng loạt đều mắc chứng rối loạn nhân cách. Thường là bệnh thái nhân cách (psychopathy) hoặc chống đối xã hội. Sự khác biệt giữa hai tính cách này chính là bản tính và nuôi dưỡng: Một kẻ thái nhân cách được sinh ra theo cách, sự kiểm soát xung lực và các trung tâm cảm xúc của não kém phát triển. Ngược lại, đối với nhóm chống xã hội thường được dung nạp theo thời gian, nó thường phát triển ngay từ thời thơ ấu, đương sự bị ngược đãi hoặc bỏ bê. Điều này không có nghĩa, kẻ giết người hàng loạt là mất trí và để có thể bị coi là mất trí tội ác, người ta chứng minh được rằng khi phạm tội, chúng không thể nhận ra khác biệt giữa đúng và sai. Kẻ giết người hàng loạt biết rất rõ sự khác biệt giữa đúng và sai, nhưng lại không thèm quan tâm.

Nhận diện kẻ giết người hàng loạt qua lăng kính y học

Kẻ giết người hàng loạt còn là nhóm người rối loạn nhân cách chống xã hội và không quan tâm “đúng và sai”, thường có những nhân cách biến thái như thiếu thái độ hối lỗi, lười biếng hoặc lôi kéo, và bốc đồng. Nhưng điều quan trọng cần lưu tâm là các hành vi xã hội của kẻ giết người hàng loạt. Cần cảnh giác với nhóm có rối loạn nhân cách, chống lại xã hội mặc dù họ sống sát nách hoặc có những cảm tình nhất định.

2. Kẻ giết người hàng loạt có hành vi trấn lột

Trong cuốn Real-Life Monsters (Những quái vật đời thường), nhà điều tra tội phạm người Mỹ Stephen J. Giannangelo gọi hành vi “bình tĩnh và có mục đích” của một kẻ giết người hàng loạt là “gây hấn trấn lột”, nếu so sánh nó với hành vi hung hăng của động vật ăn thịt. Động vật săn mồi giết chết để đáp ứng nhu cầu, không có bất kỳ cơn thịnh nộ đằng sau hành động. Còn kẻ giết người hàng loạt giết chết đối phương và nghĩ rằng anh ta cần cướp đoạt, trong khi đó những kẻ giết người khác, giết người là do bị kích động.

Nhận diện kẻ giết người hàng loạt qua lăng kính y học

Một người có “cá tính hung hăng trấn lột” tin rằng người khác thấp kém hơn mình, điều này làm cho anh ta dễ dàng biện minh cho việc làm tổn thương. Những kẻ giết người hàng loạt không có sự đồng cảm của con người bình thường, nhưng lại giả vờ rất giỏi, vì vậy mọi người cần tỉnh táo để nhận biết sự đồng cảm giả tạo khi tiếp cận. Có nhiều khả năng, nếu bản năng mách cho bạn biết bạn đang đối mặt với biểu hiện đồng cảm, hay tình yêu hoặc mối quan tâm giả tạo, thì rất có thể bản năng mách bảo cho bạn cần đè phòng trước mối nguy đang tớin gần.

3. Kẻ giết người hàng loạt thiếu sự đồng cảm và không hề hối hận

Các rối loạn tâm lý hoặc lạm dụng trẻ em có thể khiến con người ta quay lưng chống lại loài người. Đối với người có tiềm năng gây bạo lực, thì đây lại là một “đồng minh” khủng khiếp và thường là thiếu sự đồng cảm. Theo Steven Reddy, chuyên gia tâm lý ở Đại học Luật Duquesne, lạm dụng thời thơ ấu không phải là yếu tố duy nhất dẫn đến mất kiểm soát mà thiếu thốn đồng cảm cũng là nguyên nhân dẫn đến tội phạm. Nhóm người này có rất ít tình bạn để học hỏi và phát triển cảm giác đồng cảm mà mọi người bình thường vẫn có. Thiếu sự đồng cảm kết hợp với bệnh lý là một sự kết hợp chết người dẫn đến những hành động thiếu kiểm soát, giết người hàng loạt để trả thù đồng loại.

Nhận diện kẻ giết người hàng loạt qua lăng kính y học

Theo nghiên cứu của Đại học Radford về thời thơ ấu của 50 kẻ giết người hàng loạt, phát hiện thấy 68% trong số này trải qua “hành vi ngược đãi”, cả về thể chất, tình dục, tâm lý, lẫn bỏ mặc. Nghiên cứu trước đó cũng tìm thấy những số liệu tương tự, thậm chí còn có báo cáo cho rằng 100% kẻ giết người hàng loạt đã bị lạm dụng thời thơ ấu. Theo David Hosier, chuyên gia phục hồi chấn thương ở trẻ em, lạm dụng tâm lý nói riêng có ảnh hưởng chặt chẽ với hành vi của trẻ trong tương lai, trẻ em bị làm nhục hoặc bị trừng phạt thường phát triển xu hướng tàn ác, đây là hậu quả trực tiếp của sự lạm dụng khi còn nhỏ gây ra. Việc bỏ bê chăm sóc cũng là một yếu tố gây tổn thương, mất đồng cảm và dẫn đến chống đối, căm thù xa hội khi trưởng thành.

Trong cuốn Serial Murder và Psychology of Violent Crime của tác giả Richard N. Kocsis, kẻ giết người hàng loạt hầu như không cảm thấy hối hận trước sự tàn bạo mà chúng gây ra, không thấy tồi tệ, miễn là thành công. Thiếu ân hận liên quan đến thiếu đồng cảm là một trong những cá tính của kẻ giết người. Một khi không đồng cảm hoặc đau đớn, thì không cảm thấy hối tiếc về nỗi đau của một người khác, kể cả tính mạng của họ.

4. Kẻ giết người hàng loạt cố gắng lấp đầy một khoảng trống cảm xúc

Theo nhà tâm lý học người Mỹ, Marcia Sirota, những người tham gia vào các hoạt động ích kỷ hầu như luôn luôn cố gắng lấp đầy một khoảng trống cảm xúc. Sở dĩ họ làm như vậy là do thiếu thốn tình yêu và tình cảm từ khi còn nhỏ, hoặc đang cố gắng bắt chước hành vi của người lớn. Những kẻ giết người hàng loạt thường được mô tả là “trống rỗng tình người và không có khả năng hình thành những mối quan hệ cá nhân có ý nghĩa”.

Nhận diện kẻ giết người hàng loạt qua lăng kính y học

Những kẻ giết người hàng loạt có chung cá tính như nhóm người nghiện ma túy. Theo đó, nhóm người này muốn tìm kiếm một số trải nghiệm cảm xúc thay cho trải nghiệm tình cảm mà họ không có, thường là các mối quan hệ với những người khác. Có mối quan hệ lành mạnh với người khác là một thành phần quan trọng của sức khỏe tâm thần, điều làm làm cho chúng ta trở thành con người theo đúng nghĩa. Nhưng ở nhóm rối loạn nhân cách, giết người hàng loạt thì không hề có. Thật thú vị, nhiều tỷ phú giàu “nứt đố đổ vách” đôi khi cũng rơi vào nhóm “trống vắng tình cảm”. Việc theo đuổi tiền bạc giống như theo đuổi ma túy khiến họ thiếu vắng tình cảm và cố gắng làm đầy nhu cầu tình yêu và tình cảm cho bản thân.

5. Kẻ giết người hàng loạt thường thuộc nhóm nghiện

Hầu hết nhóm người này có “tính cách nghiện” như nghiện điện thoại di động, thuốc lá, rượu, hoặc các chất ma túy. Ở người bình thường, tính cách nghiện thường không gây hại cho người khác. Nhưng những kẻ giết người hàng loạt nếu nghiện, kết hợp với những phẩm chất như tự yêu mình, trống rỗng cảm xúc, không hối hận, chống xã hội thì không hiểu hệ lụy sẽ đi đến đâu?.

Nhận diện kẻ giết người hàng loạt qua lăng kính y học

Nhà tâm lý học và nhà tội phạm Craig Traube, người Mỹ, cho rằng sự chồng chéo nguy hiểm giữa rối loạn nhân cách và nghiện ngập rất nguy hiểm. Nghiện khi lên cơn sẵn sàng làm mọi việc mà không hề thấy sợ. Những kẻ giết người như Israel Keyes được mô tả là có cá tính “nghiện giết người” và nghiện các loại ma túy, hậu quả những phụ nữu rơi vào tay kẻ giết người mất hết tính này khó bề thoát khỏi, trong đó yếu tố nghiện được xem là đồng minh rất gần với hành vi tội ác.

DS. TRANG NHUNG

(Theo Grunge.com- 2/2018)

Suy giảm khứu giác có thể cải thiện?

Cơ quan khứu giác của con người rất đáng ngạc nhiên, có thể phát hiện từ 10.000 - 100 tỷ mùi khác nhau. Thông tin giác quan này đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ chất lượng cuộc sống và an toàn thể chất của con người. Ví như hương thơm của đồ ăn sẽ kích thích sự ngon miệng, mùi khó chịu cảnh báo hỏa hoạn, hóa chất độc hại hoặc thực phẩm ôi thiu... Cảm giác mùi đóng góp rất lớn cho hương vị của thực phẩm. Đây là lý do tại sao một số người bị suy giảm khứu giác nghĩ rằng họ đang bị một vấn đề về vị giác. Mùi hương cũng tạo ra những mối liên hệ với mọi người và nơi chốn, như với mùi hương của một loại nước hoa hay những ký ức về bờ biển hoặc vùng quê nào đó... Có nghĩa là mùi không chỉ liên quan và ảnh hưởng tới cuộc sống thể chất mà thậm chí còn liên quan tới cả cuộc sống tinh thần của một người. Khi giác quan này bị hạn chế, suy giảm, người bệnh cần được sớm điều trị để tránh bị cô lập và đe doạ tới sức khoẻ thể chất và chất lượng cuộc sống.

Vì sao bị suy giảm khứu giác?

Các nguyên nhân gây ra tình trạng giảm khứu giác bao gồm: hẹp hốc mũi bẩm sinh; biến dạng vách ngăn mũi; chít hẹp hốc mũi sau chấn thương; do chấn thương ở não; do tổn thương của thần kinh khứu giác ngoại biên hoặc trung ương; do các bệnh cúm, sổ mũi cấp tính, một số bệnh nhiễm khuẩn; viêm xoang cấp hoặc mạn tính; viêm mũi phì đại cấp tính hoặc mạn tính kèm theo polip, bịt tắc cửa mũi sau; các bệnh gây ngạt tắc vùng khứu giác; do rối loạn thần kinh chẳng hạn viêm thần kinh khứu giác do độc tố hoặc virut; do sử dụng phương pháp trị liệu như tia xạ, liệu pháp hoá chất, lọc máu; do những thương tổn về thần kinh trong một số bệnh: Alzheimer, đa xơ cứng, bệnh Parkinson, bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp..., do sự lão hoá của cơ thể.

Suy giảm khứu giác làm suy giảm chất lượng sống, thậm chí gây nguy hiểm.

Suy giảm khứu giác làm suy giảm chất lượng sống, thậm chí gây nguy hiểm.

Thống kê cho thấy có khoảng 250 loại thuốc khác nhau có ảnh hưởng đến khứu giác và vị giác, bao gồm: kháng sinh (như ampicillin và tetracyclin), thuốc chống trầm cảm (như amitriptylin), thuốc kháng histamin (chẳng hạn như loratadin)... Những người tiếp xúc thường xuyên, lâu dài với một số hóa chất, người nghiện thuốc lá hoặc sử dụng các chất ma túy cũng có khả năng bị giảm khứu giác.

Nhiều nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những người mắc bệnh tiểu đường týp 1 có thể gặp khó khăn khi phát hiện và phân biệt mùi hương. Điều này liên quan tới các tổn thương thần kinh tiểu đường, được gọi là bệnh lý thần kinh ngoại vi.

Mặc dù ung thư ở đầu và cổ có thể không ảnh hưởng trực tiếp đến cảm giác ngửi nhưng điều trị chiếu tia xạ có thể gây ra tình trạng suy giảm, thậm chí mất ngửi.

Tuổi tác là một yếu tố hàng đầu trong giảm khứu giác. Cảm giác ngửi mùi tốt nhất khi người ta ở tuổi 30 - 60 và bắt đầu yếu đi sau đó. Do đó, giảm khứu giác ảnh hưởng đến 39% người trên 80 tuổi.

Ngoài ra, cũng có đến 22% trường hợp mất khứu giác không rõ nguyên nhân. Một số người bẩm sinh mất khứu giác.

Làm thế nào để cải thiện suy giảm khứu giác?

Tình trạng giảm khứu giác có thể được cải thiện mà không cần điều trị, đặc biệt nếu nó là do dị ứng theo mùa hoặc nhiễm các bệnh liên quan đường hô hấp.

Nhưng nếu suy giảm khứu giác do nguyên nhân tổn thương não hoặc tổn thương do viêm đối với các tế bào cảm thụ khứu giác, sự hồi phục hoàn toàn không khả thi, ngay cả khi phẫu thuật.

Trong một số trường hợp khác, có thể hồi phục khả năng khứu giác bằng dùng thuốc và luyện tập ngửi mùi hương.

Điều quan trọng là người bệnh cần ý thức được sự bất thường của khứu giác bản thân để tìm đến bác sĩ.

Suy giảm khứu giác có thể đáp ứng tốt với điều trị, đặc biệt là khi được điều trị sớm.

Chẩn đoán và điều trị thường bắt đầu bằng khám sức khoẻ và kiểm tra tiền sử bệnh của người, đặc biệt là các vấn đề hô hấp trên. Bác sĩ sẽ kiểm tra mũi, xoang và các cấu trúc xung quanh. Nội soi mũi cũng có thể được chỉ định để phát hiện các khối u. Ngoài ra, bác sĩ sẽ kiểm tra xem mũi có polip, lệch vẹo vách ngăn hay phì đại cuốn mũi... Nếu các xét nghiệm này là âm tính, chụp MRI có thể được thực hiện để tìm kiếm các vấn đề liên quan đến não.

Phẫu thuật có thể là một cách điều trị hiệu quả khi polip mũi, vách ngăn lệch...

Các loại thuốc như steroid và thuốc chống histamin có thể được sử dụng để làm giảm viêm khi nguyên nhân là dị ứng hoặc viêm đường hô hấp.

Những lưu ý trong sinh hoạt

Những người bị suy giảm khứu giác cần chú ý để đảm bảo rằng suy giảm khứu giác không gây ra thêm các vấn đề về sức khoẻ và an toàn. Ví dụ, một người mất khứu giác có thể ăn phải đồ ăn ôi thiu hoặc không muốn ăn dẫn tới thiếu chất, suy dinh dưỡng hay ăn quá nhiều. Do đó, cần theo dõi chặt hạn sử dụng của thực phẩm, định lượng ăn uống. Lưu ý lắp đặt các thiết bị báo cháy trong nhà. Thay bếp gas bằng bếp điện. Cẩn thận khi làm việc với hóa chất gia dụng có khả năng độc.

BS. Vũ Nam

Bệnh nhân đái tháo đường bị cắt cụt chân vì tự ý ngâm nước nóng, lá cây lạ

Dễ nhiễm trùng, hoại tử, cắt cụt chi vì tự điều trị

Theo các bác sĩ, nhiều người mắc bệnh ĐTĐ do thiếu hiểu biết thường có thói quen ngâm chân bằng nước ấm, nóng hoặc tự ý đắp các loại thuốc lá không rõ nguồn gốc để giảm cảm giác tê bì, đả thông kinh mạch, làm sạch và phòng ngừa biến chứng bàn chân. Tuy nhiên, cũng vì thói quen này người ĐTĐ đang đối mặt với nguy cơ cao bị nhiễm trùng, hoại tử, phải cắt cụt chi.

Bệnh nhân Trần Ngọc H. (42 tuổi, Hàng Bè, Hà Nội) vào viện cấp cứu trong tình trạng sốt cao, sưng nề tấy đỏ lan tỏa toàn cổ chân, đường huyết tăng cao nhiễm Ceton niệu. Theo khai thác, bệnh nhân Hiền được chẩn đoán ĐTĐ tuýt 2 cách đây 1 năm. Tuy nhiên do chủ quan nên bệnh nhân dùng thuốc không thường xuyên, 2 tuần trước khi vào viện bệnh nhân xuất hiện sưng nề mắt cá trong bàn chân trái, sau đó bệnh nhân không tới viện thăm khám mà tự ý ngâm chân bằng nước đun nóng cùng hỗn hợp lá lốt, gừng, muối không rõ nhiệt độ ngày 2 lần.

Sau khoảng 2 ngày, bệnh nhân bắt đầu xuất hiện tình trạng bong da, loét bỏng rộp và chảy mủ nhiều tại vị trí bị tổn thương, sốt cao sưng tấy đỏ bàn chân, chảy dịch hôi vàng trong và có dấu hiệu lan rộng nhanh. Khi được gia đình đưa vào viện, bệnh nhân có dấu hiệu mệt mỏi, sốt cao kèm sưng nề tấy đỏ cẳng cổ bàn chân lan lên 1/2 bàn chân, đường huyết cao 27,7 mmol/l kèm theo nhiễm ceton niệu (nhiễm ceton trong đường nước tiểu).

Các biến chứng ở chân ở bệnh nhân ĐTĐ.

 

Tương tự, bệnh nhân Nguyễn Văn D. (61 tuổi, Mỹ Đức, Hà Nội) được chẩn đoán ĐTĐ trên 13 năm, điều trị Isullin 3 năm. Một tháng trước biến chứng thần kinh gây tê bì bàn chân, để giảm triệu chứng tê bì bệnh nhân đã tự ý ngâm chân bằng nước nóng với nhiệt độ cao gây bỏng loét, tuy nhiên cũng giống bệnh nhân Hiền, bệnh nhân không tới viện điều trị mà tự ý dùng thuốc nam không rõ nguồn gốc đắp lên bàn chân khiến vết thương tiếp tục bỏng sâu, chảy dịch hôi thối. Đến khi vết thương lan rộng và ngày càng sâu bệnh nhân mới chịu để người nhà đưa vào viện, sau khi được các bác sĩ thăm khám tình trạng bàn chân đã trở lên nghiêm trọng, nhiễm trùng, hoại tử sâu rộng.

Trường hợp khác là bệnh nhân Vàng A L. (59 tuổi –Sơn La) cũng vừa được chỉ định cắt bỏ toàn bộ bàn chân tới giữa cẳng bàn chân do nhập viện trong tình trạng biến chứng bỏng quá nặng, hoại tử sâu và không còn dấu hiệu phục hồi.

Khuyến cáo từ bác sĩ

Theo ThS.BS Nguyễn Ngọc Thiện - Phó trưởng khoa Chăm sóc bàn chân, BV Nội tiết Trung ương thì ba trường hợp trên không phải là hiếm gặp. Tình trạng bệnh nhân dù đang điều trị ĐTĐ nhưng vẫn tự ý dùng các bài thuốc dân gian không rõ nguồn gốc để tự chữa trị vẫn diễn ra khá thường xuyên mà không lường trước được những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra.

Các biến chứng ở chân ở bệnh nhân ĐTĐ.

 

"Trung bình mỗi tháng tại khoa Chăm sóc bàn chân – BV Nội tiết Trung ương thường phải tiếp nhận và xử lý 2-3 ca mắc ĐTĐ bị bỏng với những mức độ nặng nhẹ khác nhau. Đặc biệt, nhiều trường hợp do tự ý ngâm chân bằng nước nóng hoặc các loại cỏ cây không rõ nguồn gốc dẫn đến bỏng nặng nhưng không chịu tới bệnh viện mà cố ý tự điều trị tại nhà đã dẫn đến tình trạng hoại tử lan rộng khó chữa trị, thậm chí phải cắt cụt chi đe dọa đến tính mạng rất đáng tiếc"- BS Thiện nói.

Cũng theo BS. Thiện, bệnh nhân ĐTĐ thường chỉ đi khám khi đã có biến chứng nặng do đó quá trình điều trị khó khăn hơn nhiều so với các vết bỏng thông thường, không chỉ phải tích cực cắt lọc, chăm sóc vết thương hoại tử mà các bác sĩ còn phải kiểm soát đường huyết cũng như dùng thuốc hỗ trợ nuôi dưỡng vùng tổn thương kích thích da tự mọc, hạn chế tối đa xuất hiện thêm vết thương.

Đối với bệnh nhân ĐTĐ thường chỉ đi khám khi đã có biến chứng nặng, do vậy, BS. Thiện khuyến cáo nên khám định kỳ để giảm biến cố nhiễm trùng loét do bỏng. Bên cạnh đó người mắc ĐTĐ thường kiểm soát đường máu không tốt, không cảm nhận được nhiệt độ cao thấp nên dễ bị bỏng do vậy bệnh nhân tuyệt đối không nên tự ý ngâm chân bằng nước nóng hay đắp các loại thuốc không rõ nguồn gốc để giảm cảm giác đau, rát, tê bì.

Dương Hải

Nên ăn quả óc chó để phòng bệnh đái tháo đường típ 2

Ăn quả óc chó có thể làm giảm nguy cơ bệnh đái tháo đường týp 2 ở phụ nữ, một nghiên cứu mới đây kết luận. Các nghiên cứu trước đã cho thấy ...